Nước rửa chén, nước giặt, nước lau sàn do cơ sở trong nước pha chế và bán ra phải có nhãn tiếng Việt gồm tên hàng hoá, tên và địa chỉ tổ chức chịu trách nhiệm, xuất xứ, định lượng, ngày sản xuất, thành phần, hướng dẫn sử dụng và bảo quản, cùng thông tin cảnh báo; nếu sản phẩm có tính nguy hiểm thì phần cảnh báo phải trình bày theo cách hệ thống phân loại hoá chất quy định. Nếu nhãn tuyên bố diệt khuẩn, sản phẩm có thể rơi sang nhóm chế phẩm diệt khuẩn gia dụng với thủ tục riêng.
Khung văn bản là quy định nhãn hàng hoá chung (Nghị định 43/2017/NĐ-CP, sửa đổi bởi Nghị định 111/2021/NĐ-CP, có phụ lục nội dung theo nhóm hàng), cộng với quy định về hoá chất và quy định của ngành y tế đối với chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn. Các văn bản trong lĩnh vực hoá chất được sửa đổi trong giai đoạn 2025–2026, nên bạn đối chiếu bản hiện hành trước khi chốt nhãn.
Bài viết từ góc người làm hàng. Cách đọc nhãn và dùng chất tẩy rửa an toàn trong nhà thuộc các trang khác; ở đây không có hướng dẫn pha chế.
Nội dung nhãn của một can nước giặt tự sản xuất
Bảng dưới là khung nội dung để bạn rà bản thiết kế. Với từng dòng, cách trình bày chi tiết cần đối chiếu phụ lục hiện hành.
| Nội dung | Ghi thế nào | Lỗi hay gặp |
|---|---|---|
| Tên hàng hoá | Nói rõ loại hàng: nước giặt, nước rửa chén, nước lau sàn | Chỉ có tên thương hiệu, không rõ là sản phẩm gì |
| Tổ chức chịu trách nhiệm | Tên, địa chỉ cơ sở sản xuất hoặc bên đặt hàng | Địa chỉ theo đơn vị hành chính cũ |
| Xuất xứ | Việt Nam, với hàng pha chế trong nước | Ghi xuất xứ của hoá chất nguyên liệu |
| Định lượng | Thể tích thực hoặc khối lượng tịnh, đơn vị đo pháp định | Ghi "can 5 lít" trong khi thực tế đóng thiếu |
| Ngày sản xuất, hạn dùng nếu có | Ghi theo định dạng ngày tháng năm, kèm số lô để truy mẻ | Không có ngày, không có lô |
| Thành phần | Các chất chính, đặc biệt là chất hoạt động bề mặt, chất tạo mùi, chất có tính nguy hiểm | Ghi "chiết xuất tự nhiên" chung chung |
| Hướng dẫn sử dụng | Liều lượng theo lượng nước hoặc lượng đồ, bề mặt dùng được | Thiếu cảnh báo bề mặt không được dùng |
| Cảnh báo, sơ cứu | Theo phân loại nguy hiểm của sản phẩm; lời khuyên khi dính mắt, nuốt phải | Bỏ qua vì nghĩ hàng gia dụng thì không nguy hiểm |
Sản phẩm của bạn có được phân loại là nguy hiểm không
Hầu hết nước rửa chén, nước giặt dạng lỏng có chứa chất hoạt động bề mặt ở nồng độ có thể gây kích ứng mắt và da. Nước lau sàn, nước tẩy bồn cầu, nước tẩy dầu mỡ có thể có tính axit hoặc kiềm mạnh, hoặc chứa chất oxy hoá. Việc sản phẩm có bị coi là hoá chất nguy hiểm hay không, và nằm ở mức nào, không dựa vào cảm nhận mà dựa vào phân loại theo Hệ thống hài hoà toàn cầu về phân loại và ghi nhãn hoá chất (GHS), được Việt Nam áp dụng cho hoá chất.
Phân loại một hỗn hợp có thể làm theo dữ liệu thử nghiệm của chính hỗn hợp, hoặc tính theo nồng độ các chất thành phần dựa trên phiếu an toàn hoá chất của nhà cung cấp. Với cơ sở nhỏ, cách thực tế là yêu cầu nhà cung cấp nguyên liệu cung cấp phiếu an toàn của từng chất, rồi nhờ người có chuyên môn hoá học tính phân loại cho công thức. Kết quả phân loại quyết định nhãn có cần hình đồ cảnh báo, từ cảnh báo và các câu cảnh báo hay không.
Kết luận "không nguy hiểm" cũng là một kết quả phân loại, và bạn nên lưu hồ sơ tính toán dẫn tới kết luận đó. Khi bị kiểm tra, câu trả lời "hàng gia dụng ai cũng dùng" không thay được hồ sơ.
Các thành phần cảnh báo theo GHS trên nhãn
Hình đồ cảnh báo. Hình thoi viền đỏ, nền trắng, biểu tượng màu đen (ví dụ ăn mòn, dấu chấm than). Chỉ đặt hình đồ tương ứng đúng với phân loại, không đặt cho "trông an toàn hơn" và không bỏ khi sản phẩm thuộc diện phải có.
Từ cảnh báo. Một trong hai mức: "Nguy hiểm" cho mức nặng hơn, "Cảnh báo" cho mức nhẹ hơn. Không dùng từ tự chế.
Câu cảnh báo nguy cơ. Mô tả bản chất mối nguy, theo câu chuẩn của hệ thống phân loại, ví dụ gây kích ứng mắt nghiêm trọng. Dịch sang tiếng Việt cho đúng nghĩa, không làm nhẹ đi.
Câu phòng ngừa và sơ cứu. Để xa tầm tay trẻ em, tránh tiếp xúc với mắt, rửa kỹ bằng nhiều nước khi dính mắt, khi nuốt phải thì đi khám ngay và mang theo vỏ chai. Với sản phẩm có tính axit hoặc có chất tẩy trắng gốc clo, câu dặn không dùng chung với sản phẩm khác là đặc biệt quan trọng.
Kích thước đọc được. Can 5 lít có mặt nhãn lớn; chai 500 mL thì nhỏ. Dù nhỏ, phần cảnh báo vẫn phải đọc được bằng mắt thường. Kích thước tối thiểu cụ thể của hình đồ, nếu có, xem trong văn bản hiện hành.
Chữ "diệt khuẩn" làm đổi cả thủ tục
Nước lau sàn thường chỉ là chất làm sạch: hoà tan và cuốn đi chất bẩn. Khi nhãn ghi "diệt 99% vi khuẩn", "kháng khuẩn", "khử trùng", sản phẩm đang tuyên bố một công dụng sinh học. Ở Việt Nam, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn dùng trong gia dụng và y tế là nhóm có quản lý riêng của ngành y tế, thường phải được đăng ký lưu hành trước khi bán. Cùng một can nước, thêm một dòng chữ có thể kéo theo cả một bộ hồ sơ và thử nghiệm hiệu lực.
Vì vậy, quyết định có in chữ diệt khuẩn hay không phải được đưa ra ở bước thiết kế sản phẩm, không phải ở bước thiết kế nhãn. Nếu chưa có đăng ký theo quy định, hãy giữ nhãn ở mức mô tả công dụng làm sạch, và cả trang bán hàng, video giới thiệu cũng phải nói giống như nhãn. Quảng cáo trên mạng nói "diệt khuẩn" trong khi nhãn không có chữ đó vẫn là tuyên bố công dụng.
Các chữ như "an toàn cho bé", "không độc hại", "thân thiện môi trường" cũng nên dùng thận trọng. Mỗi câu như vậy là một khẳng định mà bạn phải chứng minh được khi được hỏi, và hiếm có sản phẩm tẩy rửa nào "không độc hại" theo mọi nghĩa.
Thành phần ghi đến mức nào là đủ
Với mỹ phẩm, bảng thành phần phải liệt kê toàn bộ. Với chất tẩy rửa gia dụng, cách ghi thành phần theo quy định nhãn hàng hoá chung thường linh hoạt hơn: ghi các thành phần chính, nhóm chất theo chức năng, cùng với những chất mà phân loại nguy hiểm đòi hỏi phải nêu tên trên nhãn. Mức chi tiết cụ thể bạn xem trong phụ lục nhóm hàng của văn bản hiện hành.
Dù văn bản cho phép ghi gọn, có hai lý do để ghi rõ hơn mức tối thiểu. Thứ nhất, người có cơ địa dị ứng với một số chất tạo hương hay chất bảo quản cần biết để tránh, và họ sẽ chọn sản phẩm có nhãn minh bạch. Thứ hai, khi có tranh chấp về kích ứng, một nhãn ghi rõ thành phần cho thấy bạn đã cung cấp đủ thông tin để người dùng tự cân nhắc.
Cách ghi nên tránh là những cụm từ không mang thông tin như "hoạt chất làm sạch thế hệ mới", "tinh chất thiên nhiên", "công thức đặc biệt". Thay vào đó, ghi tên nhóm chất có ý nghĩa, ví dụ chất hoạt động bề mặt anion, chất hoạt động bề mặt không ion, chất tạo hương, chất bảo quản, chất tạo màu, kèm tên chất cụ thể với những chất phải nêu. Khi sản phẩm có enzym (thường gặp trong nước giặt), nên ghi rõ vì đây là nhóm có thể gây mẫn cảm đường hô hấp ở một số người khi tiếp xúc nhiều.
Bán nước giặt chiết lẻ từ can lớn
Mô hình cửa hàng nhận chai mang theo, chiết nước giặt, nước rửa chén từ can lớn đang được nhiều người quan tâm vì giảm vỏ nhựa. Về nhãn, cửa hàng chiết lẻ đang đứng ở vị trí của người đóng gói lại: sản phẩm đến tay người mua không còn nhãn gốc. Người mua vẫn cần biết tên sản phẩm, nhà sản xuất, thành phần, cách dùng, cảnh báo và số lô của can gốc.
Cách làm gọn là có sẵn tem nhãn tối thiểu dán lên chai của khách, kèm một tờ thông tin đầy đủ ở quầy và một thẻ nhỏ đưa cho khách. Can gốc phải còn nhãn đầy đủ để đối chiếu. Đừng chiết hoá chất tẩy rửa vào chai nước uống của khách mà không dán gì: đây là nguyên nhân quen thuộc của các vụ trẻ nhỏ uống nhầm.
Mô hình này còn dính đến điều kiện kinh doanh hoá chất nếu sản phẩm thuộc danh mục hoá chất phải kiểm soát; bạn xem hồ sơ từng loại giấy phép trên GiayPhep.com hoặc hỏi Sở Công Thương nơi đặt cửa hàng trước khi mở.
Bảng kiểm trước khi in nhãn chất tẩy rửa
Dán bảng kiểm này cạnh bàn duyệt bản in:
- Tên hàng hoá nói rõ đây là sản phẩm gì, không chỉ tên thương hiệu.
- Thành phần khớp công thức đang dùng, có tên chất hoạt động bề mặt chính và các chất có tính nguy hiểm.
- Phân loại nguy hiểm đã có hồ sơ; hình đồ, từ cảnh báo, câu cảnh báo khớp với phân loại.
- Không có chữ diệt khuẩn, kháng khuẩn khi chưa có đăng ký theo quy định ngành y tế.
- Định lượng đúng với lượng đóng thực tế; đơn vị viết đúng ký hiệu.
- Số lô, ngày sản xuất in trực tiếp lên vỏ hoặc nhãn, không bị bong khi ướt.
- Nhãn chịu được nước và chất tẩy: thử nhỏ sản phẩm lên nhãn, chà, để khô, đọc lại.
Bước cuối cùng thường bị bỏ qua nhất. Một chiếc nhãn giấy thường dán trên can nước giặt sẽ nhoè chữ sau lần đổ tràn đầu tiên, và chiếc can đó sẽ nằm trong nhà người mua thêm nhiều tháng.
Câu hỏi thường gặp
Nước rửa chén có cần công bố chất lượng trước khi bán không?
Tuỳ sản phẩm và quy định hiện hành. Chất tẩy rửa thông thường không thuộc nhóm phải công bố như mỹ phẩm, nhưng cơ sở vẫn phải tự chịu trách nhiệm về chất lượng, có tiêu chuẩn cơ sở và ghi nhãn đúng. Nếu sản phẩm thuộc diện có quy chuẩn kỹ thuật thì còn phải chứng nhận và công bố hợp quy; bạn kiểm danh mục hiện hành.
Nước giặt có mùi thơm phải ghi hương liệu cụ thể không?
Thông thường ghi là có chất tạo hương. Tuy nhiên, nếu trong hỗn hợp tạo mùi có chất được phân loại là gây mẫn cảm da ở nồng độ đủ để ảnh hưởng tới phân loại của sản phẩm, thông tin đó có thể phải thể hiện trong phần cảnh báo.
Có được ghi "an toàn cho da tay" không?
Chỉ khi bạn có căn cứ chứng minh, chẳng hạn kết quả thử kích ứng của chính công thức. Câu này là một khẳng định về an toàn, nếu người mua bị kích ứng và phản ánh thì nhãn sẽ là bằng chứng chống lại bạn.
Sản phẩm pha từ bồ hòn, vỏ bưởi có cần cảnh báo không?
Nguồn gốc tự nhiên không có nghĩa là không gây kích ứng. Phân loại nguy hiểm vẫn làm theo thành phần và nồng độ thực tế. Dịch chiết tự làm còn có rủi ro hỏng, lên men, nên cần có hạn dùng và hướng dẫn bảo quản.
Nhãn có cần số điện thoại hỗ trợ khi có sự cố không?
Hệ thống ghi nhãn hoá chất thường yêu cầu thông tin liên hệ của nhà cung cấp; với hàng tiêu dùng ở Việt Nam, yêu cầu cụ thể tuỳ văn bản hiện hành. Có thông tin liên hệ rõ ràng giúp người dùng hỏi được khi có tai nạn, và giúp bạn nghe phản ánh sớm.
Mua nước giặt can lớn về chia chai nhỏ dán nhãn của mình được không?
Bạn đang trở thành người đóng gói lại, và nhãn phải nêu đúng ai sản xuất, ai đóng gói lại. Không được dán nhãn khiến người mua hiểu rằng bạn sản xuất ra sản phẩm đó. Ngoài ra cần thoả thuận với nhà sản xuất gốc, vì việc san chia có thể ảnh hưởng tới quyền đối với nhãn hiệu.