Nhãn hàng hoá của Trung Quốc đại lục, Đài Loan và Hồng Kông có cấu trúc khá cố định: mỗi nội dung đứng sau một tiêu đề ngắn, và chỉ cần nhận ra khoảng hai chục tiêu đề đó là bạn tìm được hầu hết những gì cần cho nhãn phụ. Người làm hàng nhập từ Trung Quốc thường không đọc được tiếng Trung, phải nhờ người khác hay dùng ứng dụng chụp ảnh dịch, và chính ở khâu này nhãn phụ hay sai: dịch nhầm khối lượng tịnh với quy cách, nhầm thời hạn bảo quản với ngày hết hạn, lấy nơi đặt hàng gia công làm nhà sản xuất.
Bài này là bảng tra cho người soạn nhãn phụ, không phải bài học tiếng Trung. Bài chỉ ra các tiêu đề hay gặp, ý nghĩa, cách chuyển sang tiếng Việt, và những bẫy riêng của nhãn tiếng Trung như cách ghi ngày, năm Dân Quốc trên hàng Đài Loan, cặp “bên đặt gia công – bên nhận gia công”. Quy định về nội dung bắt buộc trên nhãn tiếng Việt vẫn theo văn bản về nhãn hàng hoá hiện hành; bài chỉ giúp bạn lấy đúng thông tin từ nhãn gốc.
Các tiêu đề hay gặp trên nhãn thực phẩm Trung Quốc đại lục
Chữ giản thể, xếp theo thứ tự hay xuất hiện ở mặt sau bao bì. Cột cuối là nội dung tương ứng trên nhãn phụ tiếng Việt.
| Tiêu đề | Nghĩa | Dùng cho dòng nào trên nhãn phụ |
|---|---|---|
| 产品名称 / 品名 | Tên sản phẩm | Tên hàng hoá (kèm tên mô tả bản chất) |
| 配料 / 配料表 | Thành phần, theo thứ tự khối lượng giảm dần | Thành phần |
| 净含量 | Khối lượng tịnh hoặc thể tích thực | Định lượng |
| 规格 | Quy cách, ví dụ số gói nhỏ trong một túi | Thông tin bổ sung, không thay định lượng |
| 生产日期 | Ngày sản xuất | Ngày sản xuất |
| 保质期 | Thời hạn bảo quản, tính từ ngày sản xuất | Dùng để tính hạn sử dụng |
| 贮存条件 | Điều kiện bảo quản | Hướng dẫn bảo quản |
| 生产商 / 制造商 | Nhà sản xuất | Tên, địa chỉ nhà sản xuất |
| 产地 | Nơi sản xuất, thường ghi tỉnh, thành phố | Hỗ trợ xác định xuất xứ |
| 致敏物质 / 过敏原信息 | Chất gây dị ứng | Thông tin chất gây dị ứng |
| 营养成分表 | Bảng thành phần dinh dưỡng | Thông tin dinh dưỡng nếu có |
| 食用方法 / 注意事项 | Cách dùng / lưu ý | Hướng dẫn sử dụng, cảnh báo |
Hàng phi thực phẩm có các tiêu đề tương tự: 成分 (thành phần, hay gặp trên mỹ phẩm và hoá chất gia dụng), 使用方法 (cách dùng), 警示语 (lời cảnh báo), 批号 (số lô), 执行标准 (tiêu chuẩn sản phẩm áp dụng). Mục tiêu chuẩn chỉ cho biết hàng sản xuất theo tiêu chuẩn nào của nước sở tại, không phải chứng nhận hợp quy ở Việt Nam.
Bẫy lớn nhất: 保质期 không phải ngày hết hạn
Nhãn thực phẩm Trung Quốc đại lục thường không in sẵn ngày hết hạn. Thay vào đó có hai thông tin: 生产日期 là ngày sản xuất, và 保质期 là thời hạn bảo quản, viết dưới dạng một khoảng thời gian như 12个月 (mười hai tháng), 180天 (một trăm tám mươi ngày). Ngày hết hạn phải tự tính bằng cách cộng hai thông tin đó. Người không đọc được chữ hay chép con số 12 hoặc 180 vào dòng hạn sử dụng, hoặc tệ hơn, lấy ngày sản xuất làm hạn sử dụng.
Khi soạn nhãn phụ, bạn có thể ghi ngày sản xuất và hạn sử dụng đã tính ra, hoặc ghi ngày sản xuất kèm thời hạn sử dụng theo cách nhãn tiếng Việt cho phép; cách nào phù hợp nhóm hàng thì đối chiếu văn bản hiện hành. Dù chọn cách nào, phép tính phải kiểm hai lần, nhất là khi thời hạn tính bằng ngày, vì cộng 180 ngày không bằng cộng sáu tháng.
Một bẫy nhỏ hơn: dòng 生产日期 trên nhiều bao bì không có ngày ngay bên cạnh mà ghi 见包装 (xem trên bao bì), 见封口 (xem ở mép hàn) hoặc 见瓶身 (xem trên thân chai). Ngày thật được in phun ở chỗ khác, thường là dãy số liền như 20250915 theo thứ tự năm, tháng, ngày. Dãy số này hay đi kèm mã ca sản xuất hay số lô, nên phải tách đúng tám chữ số đầu. Người soạn nhãn phụ cần xem tận nơi trên hàng thật, không chỉ xem ảnh chụp mặt sau.
Nhà sản xuất thật là ai: cặp 委托方 và 受委托方
Nhiều hàng Trung Quốc là hàng gia công. Nhãn có thể ghi hai bên: 委托方 là bên đặt gia công, thường là chủ thương hiệu; 受委托方 hoặc 被委托方 là bên nhận gia công, tức nhà máy thật sự làm ra sản phẩm. Mỗi bên đều có tên và địa chỉ riêng.
Đừng lấy văn phòng thương hiệu làm nơi sản xuất. Chủ thương hiệu có thể ở một thành phố, nhà máy ở tỉnh khác. Khi nhãn phụ cần tên, địa chỉ nhà sản xuất, nên ghi theo đúng cách nhãn gốc trình bày và giữ cả hai bên nếu nhãn gốc có cả hai, để người đọc thấy được chuỗi.
产地 ghi tỉnh hoặc thành phố. Dòng này cho biết nơi sản xuất trong nội địa Trung Quốc, hữu ích để kiểm chéo với địa chỉ nhà máy. Xuất xứ trên nhãn phụ vẫn ghi theo chứng từ và quy tắc xuất xứ, thường là tên nước.
Hàng Hồng Kông, Macau. Hàng ghi nơi sản xuất là Hồng Kông hay Macau thì nhãn phụ ghi theo đúng cách chứng từ xuất xứ ghi, không tự gộp hay tách theo suy đoán.
Hàng Đài Loan và Hồng Kông: chữ phồn thể và năm Dân Quốc
Nhãn hàng Đài Loan và Hồng Kông dùng chữ phồn thể, và một số tiêu đề khác với đại lục. Thành phần hay ghi là 成分 hoặc 原料; khối lượng tịnh có thể là 內容量 hoặc 淨重; ngày sản xuất là 製造日期; và đáng chú ý nhất, nhiều nhãn Đài Loan in thẳng 有效日期 hay 有效期限, tức ngày hết hạn, thay cho cách “ngày sản xuất cộng thời hạn” của đại lục. Người quen đọc nhãn đại lục dễ cộng thêm một lần nữa, ra hạn dùng dài gấp đôi.
Bẫy riêng của hàng Đài Loan là năm Dân Quốc. Một số nhãn ghi năm theo lịch này, lấy năm 1912 làm năm thứ nhất, nên năm 114 tương ứng năm 2025. Thấy ngày ghi dạng 114.09.15 thì đó là ngày 15 tháng 9 năm 2025, không phải lỗi in. Nhãn phụ phải ghi theo năm dương lịch, và khi quy đổi nên ghi chú vào hồ sơ để người soát sau biết vì sao con số khác nhãn gốc.
Hàng Hồng Kông thường có nhãn song ngữ Trung – Anh; nhiều khi phần tiếng Anh đầy đủ hơn. Có thể dịch từ phần tiếng Anh, nhưng nên đối chiếu với phần tiếng Trung ở các dòng an toàn như chất gây dị ứng, cảnh báo, vì hai phần đôi khi không khớp hoàn toàn. Thấy lệch thì hỏi nhà cung cấp, không tự chọn bản nào nghe hợp lý hơn.
Mỹ phẩm, hoá chất gia dụng và đồ dùng: những chỗ khác với thực phẩm
Ngoài thực phẩm, các nhóm hàng Trung Quốc hay được nhập lô nhỏ là mỹ phẩm, chất tẩy rửa, đồ dùng nhà bếp, đồ chơi. Nhãn của các nhóm này dùng tiêu đề hơi khác. Mỹ phẩm thường có cặp “số lô sản xuất” và “ngày dùng đến”, tức là in thẳng ngày hết hạn chứ không cho thời hạn bảo quản như thực phẩm. Một số nhãn mỹ phẩm in cả hai cách, khi đó cần xem kỹ con số nào đi với tiêu đề nào.
Chất tẩy rửa và hoá chất gia dụng có phần lời cảnh báo và cách sơ cứu khi dính vào mắt, da hoặc nuốt phải. Phần này là thông tin an toàn, phải dịch đủ từng câu, không tóm tắt. Đồ dùng tiếp xúc thực phẩm như hộp, cốc, chảo thường ghi chất liệu và giới hạn nhiệt độ sử dụng, hai thông tin người mua cần để dùng an toàn trong lò vi sóng hay máy rửa bát.
Đồ chơi trẻ em có độ tuổi khuyến nghị và cảnh báo chi tiết nhỏ. Với nhóm này, nhãn phụ chỉ là một phần: đồ chơi còn thuộc diện phải chứng nhận hợp quy ở Việt Nam, thủ tục đó nằm ngoài cái nhãn. Ở mọi nhóm, nguyên tắc vẫn như nhau: tìm đúng tiêu đề, lấy đúng con số, và để người đọc được tiếng Trung soát những dòng liên quan tới an toàn.
Quy trình đọc nhãn tiếng Trung khi không biết tiếng Trung
Không cần học tiếng Trung để làm việc này cho đúng; cần một quy trình:
- Chụp rõ mọi mặt bao bì, cả chỗ in phun ngày tháng; chụp thêm một ảnh ở góc nghiêng nếu bao bì bóng.
- Dùng bảng tiêu đề ở trên để khoanh vùng từng nội dung trên ảnh trước khi dịch, thay vì dịch cả mặt sau một lượt.
- Dịch nháp bằng công cụ, rồi nhờ một người đọc được tiếng Trung soát riêng các dòng: tên hàng, thành phần, định lượng, ngày tháng, nhà sản xuất, cảnh báo.
- Tính hạn sử dụng từ 生产日期 và 保质期, hoặc quy đổi năm Dân Quốc, ghi phép tính vào hồ sơ.
- Đối chiếu với chứng từ của lô hàng: tên hàng trên hoá đơn, tờ khai, chứng từ xuất xứ phải khớp nhãn gốc.
- Soạn nhãn phụ, đưa người soát thứ hai đọc đối chiếu một lần nữa trên hàng thật.
Ứng dụng chụp ảnh dịch rất tiện cho việc định hướng, nhưng hay đọc sai dãy số in phun và hay ghép nhầm dòng ở bảng thành phần nhiều cột. Mọi con số trên nhãn phụ nên được người kiểm bằng mắt.
Lỗi hay gặp khi soạn nhãn phụ từ nhãn tiếng Trung
Danh sách dưới tập hợp những lỗi lặp lại ở các shop và đại lý nhập hàng Trung Quốc lô nhỏ:
- Ghi “hạn sử dụng: 12 tháng” mà không có ngày sản xuất đi kèm, người mua không biết tính từ đâu.
- Lấy số trong mục 规格 làm khối lượng tịnh, ví dụ quy cách ghi số gói nhỏ nhân khối lượng mỗi gói, trong khi khối lượng tịnh của cả túi là một con số khác.
- Ghi chủ thương hiệu là nhà sản xuất khi nhãn gốc ghi rõ một nhà máy nhận gia công.
- Đọc năm Dân Quốc như năm dương lịch hoặc coi là lỗi in rồi bỏ qua.
- Cộng thời hạn hai lần với hàng Đài Loan đã in sẵn ngày hết hạn.
- Bỏ mục chất gây dị ứng vì ứng dụng dịch không nhận ra tiêu đề, trong khi nhãn gốc có ghi.
Những lỗi trên khi bị phát hiện thường bị coi là ghi nhãn sai nội dung. Nếu một lô hàng đã bán ra với hạn dùng tính sai, nên xem danh mục về sửa nhãn và thu hồi trên trang này, và hỏi luật sư trên AI Cố Vấn khi phải giải trình với cơ quan quản lý.
Câu hỏi thường gặp
保质期 trên nhãn Trung Quốc là ngày hết hạn phải không?
Không. 保质期 là thời hạn bảo quản tính từ ngày sản xuất, ghi dạng số tháng hoặc số ngày. Ngày hết hạn phải lấy ngày sản xuất 生产日期 cộng với thời hạn đó. Ghi nguyên con số thời hạn vào dòng hạn sử dụng là sai.
Nhãn ghi 见封口 ở dòng ngày sản xuất nghĩa là gì?
Nghĩa là ngày sản xuất được in ở mép hàn bao bì, thường là dãy số liền theo thứ tự năm, tháng, ngày. Cần xem trên hàng thật và tách đúng tám chữ số đầu, vì phía sau có thể là mã ca hoặc số lô.
Năm 114 trên nhãn hàng Đài Loan là năm nào?
Đó là năm theo lịch Dân Quốc, lấy 1912 làm năm thứ nhất, nên năm 114 là năm 2025. Nhãn phụ tiếng Việt ghi theo năm dương lịch và nên lưu ghi chú quy đổi trong hồ sơ lô hàng.
Nhãn có cả 委托方 và 受委托方 thì ghi ai là nhà sản xuất?
Bên nhận gia công là nhà máy làm ra sản phẩm, bên đặt gia công thường là chủ thương hiệu. Nên giữ cả hai như nhãn gốc trình bày để người đọc thấy chuỗi, và không ghi văn phòng thương hiệu như thể đó là nơi sản xuất.
Mục 执行标准 có phải chứng nhận chất lượng ở Việt Nam không?
Không. Mục này chỉ cho biết tiêu chuẩn sản phẩm mà nhà sản xuất áp dụng ở nước sở tại. Hàng thuộc diện hợp quy ở Việt Nam vẫn phải có chứng nhận và dấu hợp quy theo quy định trong nước.
Có cần người đọc được tiếng Trung để làm nhãn phụ không?
Không bắt buộc, nhưng nên có người soát các dòng quan trọng như tên hàng, thành phần, định lượng, ngày tháng, nhà sản xuất và cảnh báo. Công cụ dịch hay đọc sai số in phun và ghép nhầm dòng trong bảng thành phần.