Nhãn phụ đúng về hình thức mà dịch sai về nội dung thì vẫn là nhãn sai. Hai chỗ dễ dịch lệch nhất là tên hàng hoá và thành phần, cũng là hai chỗ người mua và cơ quan quản lý đọc kỹ nhất. Tên hàng cho biết món này thật sự là gì; thành phần cho biết bên trong có gì, có chất mà người mua cần tránh hay không.
Bài này không bàn chuyện chọn công cụ dịch hay người dịch, mà đi vào các quy ước khi chuyển tên hàng và thành phần từ nhãn gốc sang tiếng Việt: tên thương mại giữ nguyên hay dịch, tên hàng mô tả bản chất ra sao, thứ tự thành phần, phụ gia, chất gây dị ứng, danh pháp thành phần mỹ phẩm, đơn vị và ngày tháng. Các quy định chi tiết nằm ở văn bản về nhãn hàng hoá hiện hành và quy định ngành thực phẩm, mỹ phẩm; khi nghi ngờ, nên đối chiếu bản hiện hành.
Tên thương mại, tên hàng hoá: hai thứ khác nhau
Trên một gói hàng nước ngoài thường có hai lớp tên. Lớp thứ nhất là tên thương mại hay tên dòng sản phẩm, một chữ đặt ra để dễ nhớ, có khi không mang nghĩa gì. Lớp thứ hai là tên mô tả bản chất món hàng: bánh quy bơ, nước giặt dạng lỏng, sữa chua uống vị dâu. Nhãn tiếng Việt cần thể hiện được tên hàng hoá theo nghĩa thứ hai, để người mua biết mình đang cầm cái gì.
Lỗi phổ biến là dịch tên thương mại theo nghĩa đen rồi coi đó là tên hàng. Ví dụ giả định: một loại nước tăng lực có tên dòng là một từ tiếng Anh nghĩa là “bình minh”; nhãn phụ ghi tên hàng là “Bình Minh” thì người đọc không biết đó là đồ uống gì. Cách đúng là giữ tên thương mại như nguyên bản và ghi tên hàng mô tả: “nước tăng lực có ga”. Tên thương mại không cần dịch, và thường không nên dịch, vì nó gắn với nhãn hiệu.
Lỗi ngược lại là đặt tên hàng “đẹp” hơn bản chất: gọi “đồ uống hương cam” là “nước cam”, gọi “sản phẩm từ sữa” là “sữa tươi”, gọi “thực phẩm bổ sung” là thứ khác. Tên hàng là chỗ người mua dựa vào để phân biệt hàng thật với hàng pha, nên dịch nâng cấp tên hàng có thể bị coi là gây hiểu nhầm. Khi nhãn gốc dùng tên theo phân loại pháp lý của nước sản xuất, bạn nên chọn tên tiếng Việt tương ứng với phân loại ở Việt Nam, và nếu là hàng phải công bố thì dùng đúng tên trong hồ sơ.
Quy ước khi chuyển thành phần sang tiếng Việt
Bảng dưới gom các quy ước hay dùng cho thực phẩm và mỹ phẩm. Chi tiết từng ngành theo văn bản hiện hành.
| Nội dung | Nhãn gốc thường ghi | Trên nhãn phụ |
|---|---|---|
| Thứ tự thành phần thực phẩm | Theo khối lượng giảm dần | Giữ nguyên thứ tự, không đảo để đưa thành phần “đẹp” lên đầu |
| Phụ gia thực phẩm | Tên nhóm + tên chất hoặc mã số quốc tế | Dịch tên nhóm (chất điều vị, chất bảo quản…), giữ tên chất hoặc mã số; không bỏ phụ gia |
| Chất gây dị ứng | In đậm, hoặc dòng riêng “contains” | Dịch đủ, nên tách dòng hoặc làm nổi để người mua thấy ngay |
| Thành phần mỹ phẩm | Danh pháp quốc tế INCI | Thường giữ nguyên danh pháp quốc tế, không tự dịch từng chất sang tiếng Việt |
| Tỉ lệ thành phần đặc trưng | Phần trăm khi tên hàng nhấn vào một thành phần | Giữ đúng con số, không làm tròn lên |
| Hương liệu | Tự nhiên, giống tự nhiên, tổng hợp | Dịch đúng loại; “hương cam tổng hợp” khác “nước cam” |
Danh pháp thành phần mỹ phẩm là chỗ người mới hay làm sai theo hướng ngược: cố dịch từng tên hoá chất sang tiếng Việt, ra những cụm từ không ai tra được. Danh pháp quốc tế tồn tại chính để cùng một chất có cùng một tên ở mọi nước; cách ghi cụ thể trên nhãn mỹ phẩm theo quy định ngành hiện hành.
Chất gây dị ứng: chỗ không được dịch lướt
Đừng chỉ dịch từ “allergen”. Nhãn gốc thường có dòng “contains” liệt kê như sữa, trứng, đậu phộng, hạt cây, đậu nành, lúa mì, cá, giáp xác, mè. Mỗi chất phải được dịch rõ, ví dụ phân biệt “đậu phộng” với “các loại hạt cây” như hạnh nhân, óc chó, vì người dị ứng tránh từng loại khác nhau.
Cảnh báo nhiễm chéo cũng là thông tin an toàn. Dòng kiểu “may contain” hay “produced in a facility that also handles” cho biết khả năng lẫn vết. Nhãn phụ nên dịch đủ thay vì bỏ vì “không bắt buộc”, vì người dị ứng nặng dựa vào chính dòng này.
Tên phụ gia gốc từ chất gây dị ứng. Một số thành phần có tên kỹ thuật nhưng nguồn gốc từ sữa hay đậu nành, ví dụ đạm sữa, lecithin đậu nành. Khi nhãn gốc đã ghi nguồn gốc trong ngoặc, nhãn phụ phải giữ.
Không thêm cũng không bớt. Nhãn phụ không được tự thêm chất gây dị ứng mà nhãn gốc không có chỉ để “cho chắc”, vì như vậy là sai thông tin về sản phẩm; cũng không được bớt. Nếu nghi nhãn gốc thiếu, hỏi nhà sản xuất và chờ xác nhận bằng văn bản trước khi in.
Đừng gộp nhiều mã hàng một nhãn. Hai vị của cùng một dòng bánh có thể khác nhau đúng ở chất gây dị ứng. Dùng chung nhãn phụ cho hai vị là lỗi rất dễ xảy ra ở kho.
Đơn vị, con số và ngày tháng
Đơn vị đo trên nhãn phải là đơn vị đo pháp định, ký hiệu viết đúng: g, kg, mL hoặc ml, L hoặc l. Hàng từ Mỹ hay ghi ounce, fluid ounce, pound; nhãn phụ phải quy đổi sang đơn vị pháp định, và con số quy đổi không được lớn hơn lượng thật. Khi quy đổi ra số lẻ, cách làm an toàn là làm tròn xuống, kiểm lại bằng cân đo thực tế trên vài đơn vị hàng.
Dấu thập phân là chỗ hay nhầm. Tiếng Việt dùng dấu phẩy cho phần thập phân và dấu chấm để ngăn cách hàng nghìn, nhiều nước làm ngược lại. “1.5 L” trên nhãn gốc phải thành “1,5 L”; giữ nguyên “1.5” thì người đọc Việt có thể hiểu thành một nghìn năm trăm. Cùng lý do, bảng dinh dưỡng có nhiều số lẻ nên được soát riêng từng dòng.
Ngày tháng trên nhãn tiếng Việt theo thứ tự ngày, tháng, năm. Nhãn gốc có thể ghi năm trước, tháng trước, hoặc tháng bằng chữ viết tắt. Nhãn phụ phải chuyển đúng thứ tự hoặc chú thích rõ cách đọc; tuyệt đối không đoán. Một ngày như 03/04 trên hàng Mỹ là ngày 4 tháng 3, trên hàng châu Âu là ngày 3 tháng 4. Nếu không chắc nhà sản xuất dùng quy ước nào, hỏi lại và lưu câu trả lời. Với hàng nhiều nước sản xuất cùng một dòng, quy ước có thể khác nhau theo nhà máy.
Bảng giá trị dinh dưỡng là trường hợp riêng. Nhãn gốc có thể tính theo khẩu phần, theo 100 g hoặc cả hai, và tên chỉ tiêu dịch phải thống nhất: năng lượng, chất đạm, chất béo, chất béo bão hoà, carbohydrate, đường, natri. Khi nhãn gốc ghi năng lượng bằng kcal và kJ, giữ cả hai con số thay vì tự quy đổi lại. Thông tin dinh dưỡng có bắt buộc với nhóm hàng của bạn hay không thì tra văn bản hiện hành, nhưng đã ghi thì phải đúng.
Quy trình soát bản dịch trước khi in
Bản dịch nhãn phụ nên qua ít nhất hai người, theo thứ tự:
- Người dịch làm bảng hai cột: cột trái chép nguyên văn nhãn gốc từng dòng, cột phải bản tiếng Việt.
- Người soát thứ hai, không tham gia dịch, đọc từng cặp dòng, đánh dấu chỗ nghi ngờ; đặc biệt tên hàng, thành phần, chất gây dị ứng, đơn vị, ngày tháng.
- Chỗ nghi ngờ hỏi nhà sản xuất hoặc tra tài liệu kỹ thuật; không giải quyết bằng cách chọn bản dịch “nghe hợp lý”.
- Với hàng phải công bố, đối chiếu bản dịch với hồ sơ đã nộp: tên hàng, thành phần, chỉ tiêu phải khớp.
- In thử, dán lên hàng thật, đọc lại trên sản phẩm ở khoảng cách bình thường để xem chữ có đủ rõ.
- Lưu bảng hai cột cùng người dịch, người soát, ngày duyệt vào hồ sơ mã hàng.
Dùng công cụ dịch máy để có bản nháp nhanh thì được, nhưng bước 2 và 3 không bỏ được: máy dịch hay chuyển tên thương mại theo nghĩa đen và đảo thứ tự cụm danh từ trong bảng thành phần.
Hướng dẫn sử dụng và cảnh báo: dịch để người đọc làm theo được
Thành phần cho biết bên trong có gì, còn hướng dẫn sử dụng và cảnh báo cho biết phải làm gì và không được làm gì. Đây là phần mà dịch đúng từng chữ vẫn chưa đủ, vì người đọc phải làm theo được. Câu hướng dẫn nên giữ đúng trình tự các bước như nhãn gốc, giữ đúng liều lượng, nhiệt độ, thời gian, và chuyển sang cách nói tự nhiên của tiếng Việt thay vì giữ cấu trúc câu của ngôn ngữ gốc.
Với cảnh báo, chỗ hay sai là làm nhẹ đi. Nhãn gốc ghi “không dùng cho trẻ dưới ba tuổi”, bản dịch thành “thận trọng khi dùng cho trẻ nhỏ” là đã đổi một lệnh cấm thành một lời khuyên. Nhãn gốc ghi “để xa tầm tay trẻ em” thì giữ đúng mức độ đó. Những từ chỉ mức độ như “không được”, “nên”, “có thể” phải được dịch tương ứng, vì người dùng dựa vào chính sắc thái này để quyết định.
Hướng dẫn bảo quản cũng vậy: “bảo quản lạnh sau khi mở, dùng trong một số ngày” là hai điều kiện đi cùng nhau, bỏ một vế là sai. Khi nhãn gốc có biểu tượng thay chữ, như biểu tượng giặt, biểu tượng tái chế, biểu tượng không dùng lò vi sóng, nhãn phụ nên có dòng chữ tiếng Việt diễn giải nếu biểu tượng đó mang thông tin bắt buộc, thay vì cho rằng ai cũng hiểu.
Câu hỏi thường gặp
Tên thương mại trên nhãn gốc có cần dịch sang tiếng Việt không?
Thường không cần và không nên, vì tên thương mại gắn với nhãn hiệu. Điều bắt buộc là nhãn tiếng Việt thể hiện tên hàng hoá mô tả bản chất món hàng, ví dụ nước tăng lực có ga, bánh quy bơ.
Thành phần mỹ phẩm có phải dịch từng chất sang tiếng Việt không?
Thường giữ nguyên danh pháp quốc tế vì đó là tên chung của chất ở mọi nước. Tự dịch từng tên hoá chất dễ ra cụm từ không tra được. Cách ghi cụ thể trên nhãn mỹ phẩm nên đối chiếu quy định ngành hiện hành.
Có được đảo thứ tự thành phần trên nhãn phụ không?
Không nên. Thành phần thực phẩm thường ghi theo khối lượng giảm dần, thứ tự đó là thông tin cho người mua. Đảo để đưa thành phần hấp dẫn lên đầu làm người đọc hiểu sai về món hàng.
Nhãn gốc ghi 1.5 L thì nhãn phụ ghi thế nào?
Ghi 1,5 L theo cách dùng dấu phẩy cho phần thập phân của tiếng Việt. Giữ dấu chấm có thể khiến người đọc hiểu sai. Đơn vị ounce hay pound phải quy đổi sang đơn vị pháp định, con số không được lớn hơn lượng thật.
Dòng may contain có phải dịch không?
Nên dịch đủ. Dòng này cảnh báo khả năng lẫn vết chất gây dị ứng do sản xuất chung dây chuyền, và người dị ứng nặng dựa vào nó để quyết định. Bỏ đi vì nghĩ không bắt buộc là bỏ mất thông tin an toàn.
Dùng máy dịch để làm nhãn phụ có được không?
Có thể dùng để làm bản nháp, nhưng phải có người soát đối chiếu từng dòng với nhãn gốc, hỏi lại nhà sản xuất chỗ nghi ngờ và đối chiếu hồ sơ công bố nếu có. Người đứng tên trên nhãn chịu trách nhiệm về bản dịch, không phải công cụ.